Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

TÔN GIÁO NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN DỰA TRÊN QUYỀN CON NGƯỜI

Quyền con người là những giá trị và nhân phẩm vốn có của mỗi cá nhân con người được bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế. Quyền con người mang giá trị phổ quát phản ánh những giá trị nhân văn của mọi nền văn hóa; là các quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân mà không dựa trên bất cứ sự phân biệt nào, bao gồm sự phân biệt về chủng tộc, màu da, sắc tộc, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ; lứa tuổi, địa vị xã hội và những trạng thái phân biệt khác.

Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu bảo vệ các cá nhân và nhóm khỏi những hành động can thiệp vào tự do cá nhân và phẩm giá con người. Những đặc điểm quan trọng của quyền con người là chúng được bảo đảm bảng các chuẩn mực quốc tế; bảo vệ bằng pháp luật; trọng tâm vào phẩm giá con người; trách nhiệm thuộc về nhà nước và các chủ thể nhà nước; không bị tước đi; phụ thuộc và quan hệ lẫn nhau; và phổ quát.

Không phải tất cả các quyền con người đều mang tính tuyệt dối. Một số quyền con người  mang tính tuyệt đối, chẳng hạn, quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử và trừng trị tàn tệ, hạ nhục và phi nhân tính... Tuy nhiên, có nhiều quyền mang tính giới hạn, trong đó có các quyền về tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do tôn giáo và tín ngưỡng... Pháp luật quốc tế về quyền con người  đều quy định về những giới hạn quyền này.

Tuy nhiên, những giới hạn này cần phải tuân theo luật định và dựa trên nguyên tấc pháp quyền và vì một xã hội dân chủ. Nghĩa là việc giới hạn các quyền và tự do của cá nhân phải do luật định và phải trên cơ sở an ninh và trật tự xã hội; sức khỏe cộng đồng hoặc đạo đức xã hội; vi quyên và lợi ích của người khác.

Tôn giáo được xem như một nguồn của những ý niệm, tư tưởng về quyền con người. Quan niệm về bình đẳng, bác ái, lòng bao dung, sự vị tha, tình huynh đệ/anh em... đều là những giá trị cốt lõi trong hệ thống giá trị của các tôn giáo.


Ảnh: Lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm đến đời sống tôn giáo

Mặc dù khái niệm quyền con người  chỉ ra đời kể từ khi bản Tuyên ngôn thế giới vê quyền con người do Đại Hội đồng LHQ thông qua năm 1948, quan niệm và tư tưởng về quyền con người đã xuất hiện rất sâu trong lịch sử nhân loại, ngay từ thời kỳ cổ đại cả ở phương Tây và phương Đông, đặc biệt là trong những văn tuyền của các tôn giáo lớn trên thế giới như Kinh Vệ Đà của Phật Giáo, Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo và Kinh Koran của Hồi giáo, Văn tuyền Nho giáo, Lão giáo... đều chứa đựng nội dung phản ánh về các quyền và tự do cơ bản của con người ở các mức độ khác nhau.

Cách tiếp cận dựa trên quyền chia ra 3 nguyên tắc nền tảng: Thứ nhất, cả nhà nước và các nhóm xã hội là chủ thể của các quyền con người; thứ hai, Nhà nước (và những người đại diện của mình) là chủ thể nghĩa vụ chính có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người; thứ ba, quyền con người là tiêu chuẩn xuất phát và đích hướng tới của mọi quá trình chính sách và chương trình.

Quyền tự do tôn giáo, tiếp cận từ góc độ quyền con người, chỉ ra trước hết các cá nhân và tất cả mọi người nói chung đều là chủ thể của quyền được bày tỏ và theo, cũng như không theo, một tôn giáo hay tín ngưỡng nào đó. Đồng thời, từ góc độ quyền con người , cho thấy trách nhiệm và nghĩa vụ đối với việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền này trước hết thuộc về nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng khi tham gia điều ước quốc tế; nhà nước có nghĩa vụ thực thi tất cả các biện pháp cần thiết để bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Quyền con người  có mối liên hệ mật thiết với tôn giáo không phải chỉ vì tôn giáo là nguồn hình thành của quyền con người  mà còn bởi vì tôn giáo chính là một sự hiện hữu của quyền và tự do cơ bản của con người dạng thức biểu đạt, theo và thực hành một hệ thống giá trị hay niềm tin về tín ngưỡng, tôn giáo nhất định. Mối quan hệ này không chỉ dừng lại ở khía cạnh nhận thức luận hay bản thể luận, mà nó đã được chuẩn mực hóa thành nhũng nguyên tắc của hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại, đặc biệt là trong luật nhân quyền quốc tế, và thống nhất dưới dạng thức quyền tự do tôn giáo.

Khoan dung chính là một trong những giá trị cốt lõi của cả tôn giáo và quyền con người. Trong tôn giáo, khoan dung chính là một sự thừa nhận và tôn trọng việc thực hành tôn giáo và tín ngưỡng của người khác. Vì thế, khoan dung tôn giáo là cơ sở và tiền đề của một xã hội đa tôn giáo và đa văn hóa, đồng thời cũng chính là thước đo của việc thực hành quyền con người. Sự thiếu vắng của khoan dung tôn giáo trong nhận thức và hành vi ứng xử của những nhà luật pháp, lãnh đạo, quản lý xã hội, cũng như của các chủ thể thụ hưởng và sáng tạo giá trị văn hóa, tinh thần của xã hội sẽ là mầm mống dẫn đến chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền, tội ác, chiến tranh và sự hủy diệt. Sự bất khoan dung tôn giáo sẽ phá hủy tính đa dạng văn hóa của xã hội loài người, tinh thần kết đoàn và hòa hợp, cùng như làm triệt tiêu xu hướng xây dựng xã hội hài hòa, hòa bình, hợp tác và phát triển.

Một xã hội khoan dung tôn giáo tạo ra môi trường tôn giáo mà ở đó niềm tin, tín ngưỡng và đức tín của mỗi cá nhân và nhóm xã hội đều được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm. Khoan dung tôn giáo và đa dạng tôn giáo có mối liên hệ mật thiết, thống nhất và tác động qua lại lẫn nhau. Khoan dung tôn giáo là điều kiện để nảy nở một nền văn hóa đa dạng cũng như một xã hội đa tôn giáo. Tuy nhiên, chính sự thực hành đa tôn giáo rộng rãi trong đời sống văn hóa và xã hội sẽ giúp nuôi dưỡng tinh thần khoan dung tôn giáo nói riêng và khoan dung nói chung của nền văn hóa ấy. Do đó, đa dạng tôn giáo, đến lượt nó, trở thành một điều kiện để hình thành một nền văn hóa khoan dung tôn giáo, cũng như một nền văn hóa nhân quyền.

Cùng với Tuyên ngôn 1948 và Công ước 1966, LHQ đã thông qua Tuyên bố về Loại bỏ mọi hình thức bắt khoan dung và phân biệt đối xử về tôn giáo hay tín ngưỡng năm 1981, theo đó tái khẳng định các quyền về tự do tôn giáo được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Công ước về các quyền Dân sự - Chính trị 1966. Nghị quyết 52/122 của Đại hội đồng LHQ về Xóa bỏ mọi hình thức bắt khoan dung tôn giáo cũng đã tái khẳng định “tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo và tín ngưỡng là một QCN cơ bản bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của mỗi người và được bảo đảm cho tất cả mọi người mà không có bất cứ sự phân biệt nào", đồng thời khẩn khoản kêu gọi các quốc gia thành viên LHQ cần phải “tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quyền con người nhằm thực thi tất cả hành động cần thiết dể ngăn ngừa những hành vi bắt khoan dung tôn giáo".

Tôn giáo xuất hiện và phát triển cùng với lịch sử nhận thức và phát triển của chính con người và xã hội loài người. Tôn giáo không chỉ là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu được của con người hàng thiên niên kỷ, mà trên hết, nó còn là một giá trị xã hội phản chiếu khát vọng của con người về một thế giới tốt đẹp hơn, giúp mỗi con người sống hướng thiện, các giá trị nhân văn và cổ vũ cho một nền văn hóa khoan dung. Do đó, tôn giáo còn là một giá trị xã hội mang tính văn hóa sâu sắc và tính nhân văn sâu sắc; là nguồn của quyền con người.

Cách tiếp cận dựa trên QCN đối với tôn giáo chỉ ra việc thực hiện quyền tự do tôn giáo không tách rời việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của mỗi người nói chung. Quyền tự do tôn giáo không phải là một quyền tuyệt đối mà có tính giới hạn. Các QCN là thống nhất hữu cơ, không thể tách rời và phụ thuộc lẫn nhau, vì thế cần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên cơ sở của việc đảm bảo tổng thể các quyền và tự do cơ bản khác của công dân. Thành tựu và bước tiến về sự bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết phụ thuộc vào mức độ thụ hưởng hiệu quả tổng thể các quyền con người nói chung. Yêu sách của việc trao quyền cho mọi người là đòi hỏi tất yếu để bảo đảm và hiện thực hóa được đầy đủ các quyền con người nói chung cũng như quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng nói riêng. Tiếp cận quyền đối với tôn giáo cũng đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm chính của các chủ thể nghĩa vụ. Vì vậy, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế, cơ chế bảo đảm và thực hiện quyền tự do tôn giáo nói riêng, nhà nước cần tăng cường việc trao các cơ hội bình đẳng và thúc đẩy khả năng tiếp cận việc thụ hưởng các quyền con người khác của các tín đồ tôn giáo và mọi tầng lớp nhân dân, trong đó đáng lưu ý là quyền tự do lập hội và hội họp, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do bầu cử, ứng cử; quyền được giáo dục, quyền tiếp cận công lý, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận văn hóa, quyền được thụ hưởng và sáng tạo các giá trị văn hóa.

Hoàng Trường
Comments
1 Comments
Facebook Comments by Blogger Widgets

1 nhận xét:

  1. Trong mấy ngày vừa qua, xuất hiện rất nhiều kẻ lợi dụng tôn giáo mà cụ thể là lợi dụng thần quyền, giáo lý của tôn giáo để kích động, ép buộc giáo dân có những hành động quá khích cực đoan, phá hoại cơ sở công cộng.

    Trả lờiXóa