Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN QUỐC GIA LÀ MỤC TIÊU CAO NHẤT ĐỂ BẢO VỆ NHÂN QUYỀN

Vào những ngày giới cầm quyền Trung Quốc có nhiều hành động gây hấn như: Vẽ đường lưỡi bò đoạn xã định chủ quyền chiếm đến 85% diện tích biển Đông, cho giàn khoan Hải Dương-981 hạ đặt sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, kéo giàn khoan Nam Hải-09 về phía biển Đông, xây dựng nhiều công trình trong đó có cả các đảo nổi nhân tạo trên các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, ngăn chặn, bắt, đánh đập ngư dân Việt Nam, cướp ngư cụ, hải sản của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động ở các vùng biển truyền thống của Việt Nam… chúng ta có hai dịp kỉ niệm quan trọng. Đó là ngày 20-7, cách đây 60 năm, ký kết Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và bán đảo Đông Dương. Ngày 17-7-1966, cách đây 48 năm, Bác Hồ ra lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước gửi đồng bào hai miền Nam Bắc với thông điệp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hai sự kiện khác nhau, ở những thời điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung, đó là hai cột mốc lịch sử, hai mốc son trên con đường giành lại và bảo vệ độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân ta. Con đường ấy kéo dài hàng nghìn năm nay, từ lúc còn khai sơn phá thạch xây dựng đất nước. Rồi hàng chục thế kỷ đắm chìm trong đêm trường nô lệ, hàng nghìn năm dựng nền tự chủ, đánh thắng mọi đội quân xâm lược khổng lồ của các triều đại phong kiến phương Bắc. Rồi đánh thắng thực dân pháp, đánh thắng đế quốc Mỹ - những đế quốc lớn, nổi tiếng giàu có và tàn ác, chưa từng thua ai trong các cuộc chiến tranh tính đến thời điểm đó. Đánh thắng cuộc xâm lăng bành trướng của Bắc Kinh trong cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979. Đánh thắng giặc Khmer đỏ, tay sai của Bắc Kinh, trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Người Việt Nam yêu hòa bình nhưng không phải hòa bình bằng mọi giá, hòa bình trong nô lệ, phụ thuộc. Với người Việt Nam, nước phải được độc lập, phải được tự do! Độc lập, tự do là cái quý nhất, là quyền cao nhất của con người, là chân lý, là cái bất biến giữa cái vạn biến. Vào những ngày này, suy nghĩ về hai sự kiện đó dưới ánh sáng của câu nói bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, ngẫm them được nhiều bài học quý.



Khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta đứng trước vô vàn khó khan. Ngân khố trống rỗng. Quân đội, vũ khí và phương tiện chiến tranh gần như chưa có gì. Đồng bào nghèo khổ, kiệt quệ, vừa ra khỏi trận đói khiến hơn 2 triệu người chết. Sự thiếu thốn ấy ta từng thấy ngay trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ: “Ai có súng dung sung, ai có gươm dung gươm, ai không có súng, có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Nhưng một khó khăn rất lớn nữa ít khi được nhắc đến là phía đối phương, thực dân Pháp, thực dân Anh và đội quân 20 vạn của Tưởng Giới Thạch đều thuộc phe Đồng Minh thắng trận, ta phải dựa vào thanh thế của họ để khởi nghĩa. Phía cùng chiến tuyến, Stalin, người đứng đầu khối Quốc tế Cộng sản Liên Xô và Đông Âu coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là người theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, không phù hợp với chủ trương cách mạng thế giới.

Trước những khó khăn ấy, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, rời lên Việt Bắc, tổ chức đánh giặc lâu dài. Nhiều thanh niên Hà nội rút qua gầm cầu Long Biên, rời bỏ “đô thành nghi ngút cháy sau lưng” với tâm thế “người ra đi đầu không ngoảnh lại” để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ “Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn bao vây đầu não kháng chiến, Chính phủ phải tản vào rừng, có Bộ trưởng hi sinh, giờ chưa tìm thấy mộ. Cho đến năm 1953, 1954, nhất là sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tình hình chiến trường mới dần sáng sủa, ưu thế mới nghiêng về phía ta.. Ta thắng lớn trên cả ba chiến trường đông dương, khiến thực dân Pháp lúng túng, bị động, kiệt sức. Riêng về đất và dân ở Việt Nam, ta giải phóng 2/3, gồm cả một vùng rộng lớn của miền Trung, miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc và Việt Bắc. Tiếp theo là chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Dư luận thế giới đồng tình ủng hộ Việt Nam, chống chiến tranh, chính phủ thực dân Pháp hiếu chiến sụp đổ...

Hội nghị Geneve về Triều Tiên và Đông Dương được triệu tập ngày 26-4-1954 nhưng mãi đến 8-5-1954, khi vấn đề Triều Tiên bế tắc, Đoàn ta mới được dự, vấn đề Đông Dương mới được mang bàn. Tham dự hội nghị có các phái đoàn Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Việt Nam Dâm chủ Cộng hòa, Quốc gia Việt Nam (Chính phủ Bảo Đại). Hai phái đoàn Lào và Campuchia không được dự chính thức, không được phát biểu ý kiến, mọi ý kiến đều phải thông qua đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ qua chương trình nghị sự và thành phần các đoàn dự hội nghị thôi đã chứng tỏ cán cân lực lượng như thế nào.

Trong quá trình hội nghị, ở bên trong và bên ngoài phòng họp, chúng ta bị sức ép rất lớn. Lập trường của Liên Xô (cũ)lúc ấy là không muốn chiến tranh lan rộng ra ngoài Đông Dương để tránh việc phương Tây ủng hộ Mỹ và Liên Xô phải ủng hộ Trung Quốc, hòa bình thế giới lại bị đe dọa trong khi Chiến tranh thé giới thứ II mới kết thúc được ít lâu. Trong khi ấy, Trung Quốc không quan tâm đến lợi ích của ba nước Đông Dương, thỏa hiệp với phương Tây trong việc phân chia lãnh thổ bất lợi cho các nước này. Lập trường cao nhất của Trung Quốc là việc ký hiệp định sẽ tránh Mỹ can thiệp vào Trung Quốc và tạo ra cùng đệm an toàn cho Trung Quốc, Trưởng đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai đã tuyên bố: “Ba nước Đông Dương sẽ không tham gia vào bất cứ một liên minh quân sự nào và không một nước nào có quyền lập căn cứ trên lãnh thổ của họ” và biến hội nghị thành một cơ hội quan trọng đưa Trung Quốc trở thành một thế lực chinh trị lớn, không thể bỏ qua ở châu Á.

Sau này, một số người nói rằng ký vào Hiệp định Genevee là một sai lầm lịch sử trong khi ta có điều kiện lấn tới trên chiến trường, đỡ được 20 năm chiến tranh tốn máu xương. Thực ra,những người này quên đi một thực tế lịch sử rằng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta rất cần một thời gian củng cố lực lượng, cần một hậu phương vững chắc cho những bước tiếp theo và tránh một cuộc chiến tranh trực tiếp với Mỹ ngay lúc đó khi Mỹ đã sẵn sàng nhảy vào thế chân Pháp trong cuộc chiến tranh, kể cả dùng bom nguyên tử để giành chiến thắng. Trong khi đó, hai nước đồng minh của ta là Liên Xô (cũ) và Trung Quốc thì như đã nói ở trên. Vì vậy, việc ký kết Hiệp định Geneve là một bước bắt buộc trên con đường giành lại độc lập, tự do, thống nhất non sông. Lịch sử không cho chúng ta có sự lựa chọn nào khác!

Chân thành hi vọng rằng vĩ tuyến 17 chỉ là ranh giới tạm thời, hai năm sau sẽ có tổng tuyển cử thống nhất hai miền, chúng ta đã tôn trọng Hiệp định Geneve. Nhưng Mỹ và Chính quyền miền Nam ngay từ đầu đã rắp tâm xé bỏ nó. Mỹ và chính quyền tay sai đàn áp Cộng sản, tăng cường viện trợ quân sự, hệ thống cố vấn quân sự rồi phát động chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, xây dựng “khu trù mật”, “ấp chiến lược” với Luật 10-59 lê máy chém khắm miền Nam, tiến hành “bình định”, tìm diệt nhằm tách Quân Giải phóng ra khỏi dân, từng bước tiêu diệt họ. Riêng về quân đội, cho đến cuối năm 1967, Mỹ đã đổ vào miền Nam Việt Nam hơn nửa triệu quân tinh nhuệ và lính chư hầu cùng hàng nghìn máy bay, xe tăng, xe bọc thép, pháo nhỏ, pháo lớn… đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ra miền Bắc Việt Nam, hậu phương lớn của cả nước.

Tình hình chiến trường lúc đó rất nguy hiểm. Trong lịch sử, chưa từng có nơi nào, nước nào đánh thắng được đội quân 60 vạn người cùng tàu khu trục, máy bay, xe tăng, súng lớn của Mỹ. Lực lượng này lại có 1,2 triệu quân Ngụy (quân đội của Việt Nam Cộng hòa) bên cạnh, sẵn sàng phối thuộc. Thế chênh lệch đó còn tăng hơn khi ta chưa có kinh nghiệm gì trong đánh Mỹ. Khẩu hiệu “cứ đánh Mỹ rồi sẽ tìm ra cách đánh Mỹ” từng là phương châm chỉ đạo chiến trường trong thời gian này. Cách mạng Ấp Bắc, Vạn Tường, Bàu Bàng, Đà Nẵng, Đắc Tô – Tân Cách là các thử nghiệm đánh Mỹ để rút ra quy mô đánh, cách đánh ở từng hoàn cảnh, địa hình khác nhau. Trên miền Bắc, chiến tranh phá hoại bằng khong quân của Mỹ đang trong giai đoạn căng thẳng nhất, gây cho ta không ít khó khăn. Đường Trường Sơn, con đường tiếp vận chủ yếu cho miền Nam và quốc lộ 1A bị đánh phá dữ dội, nhiều đoạn bị cắt đứt. Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, và nhiều tỉnh thành khác bị san bằng phẳng bằng bom. Hầu hết cầu, đường, nhà máy, kho tang, cơ sở vật chất cho chiến tranh… bị đánh phá. Có thể nói rằng, trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, hầu như mọi công trình ta chắt chiu gây dựng sau hơn 10 năm hòa bình trên miền Bắc đã bị chúng phá hoại hết. Trong tương quan với thế giới hiện đại, “thời kỳ đồ đá” nư chúng đã từng đe dọa. Cũng ngay từ lúc ấy, Bác Hồ đã tiên đoán: “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố sẽ bị tàn phá”, “chiến tranh chỉ kết thúc trên bầu trời Hà Nội”.

Trong bối cảnh ấy, Chủ tịc Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân, toàn quân chống Mỹ cứu nước. Sau khi phân tích tương quan địch-ta, khẳng định chiến thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đanh thép: “Chiến tranh có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, nhưng nhân dân Việt Nam nhất quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Câu nói của Bác Hồ là chân lý của thời đại, gói gọn toàn bộ lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc và cũng là cuộc đời cách mạng của Người, là khẩu hiệu hành động hiệu triệu toàn dân tộc đứng lên chống Mỹ cứu nước, là tiếng nói khẳng định chiến thắng trong thời khắc vận mệnh Tổ quốc nghiêng nghèo. Và đúng như vậy. Tiến lên theo chân lý không có gì quý hơn độc lập, tự do, quân và dân ta đã từng bước lập hết chiến công này đến chiến công khác, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, tiến tới đại thắng mùa xuân năm 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau khi thất bại, một vị tướng Mỹ đã cay đắng nhận xét: “Sở dĩ Mỹ thua vì đã không hiểu văn hóa Việt Nam”. Qua hàng nghìn năm, từ Triệu, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê, Tây Sơn đến thời đại Hồ Chí Minh, kết tinh cao đẹp nhất của văn hóa Việt Nam là “một lòng nồng nàn yêu nước”, là ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Với ý chí ấy, người Việt Nam trong ngoài, trên dưới một lòng, thua keo này bày keo khác, đời cha nối đời con, sẵn sàng hi sinh xương máu, đánh cho giặc ngoại xâm phải lui, giành lấy tự do, độc lập cho non sông. 

Lịch sử đã chứng minh rằng vượt qua những thất bại chiến thuật tạm thời, cuối cùng bao giờ Việt Nam cũng chiến thắng với mọi kẻ thù, dù chúng hùng mạnh đến đâu. Trước thế giặc mạnh như chẻ trăm quân dân Đại Việt thời Trần dù “ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” nhưng “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước dốc sức” cuối cùng ba lần đại thắng quân Nguyên, khiến cho “đến nay nước sông vẫn chảy hoài mà nhục quân thù không rửa hết”. Nguyễn Trãi, Lê Lợi “quên ăn vì hận”, dù phải 10 năm nếm mật nằm gai nhưng “tướng sỹ một lòng phu tử” cuối cùng cũng đánh tan tác mấy chục vạn quân Minh xâm lược. Trong vấn đề biển Đông hiện nay, chẳng nhẽ Trung Quốc lại chưa rút ra được bài học lịch sử ấy?

Hải Trang
Comments
13 Comments
Facebook Comments by Blogger Widgets

13 nhận xét:

  1. Tuy là một đất nước nhỏ bé nhưng chúng ta đã chiến thắng hai cường quốc lớn trên thế giới là Mỹ và Pháp. Chỉ cần toàn dân đoàn kết, không một kẻ thù nào có thể chiến thắng được chúng ta. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh quá rõ ràng. Hãy tự tin những người dân Việt Nam

    Trả lờiXóa
  2. dân chủ nhân quyền trong suy nghĩ của những người mà hiện nay đang được mang cái mác nhà dân chủ là gì khi mà những hành động của chúng lại đang tạo cơ hội để ngoại bang can thiệp vào nội bộ nước nhà, chèn ép làm nền kinh tế nước ta lâm vào khó khăn

    Trả lờiXóa
  3. không có tự do thì cho dù có dân chủ nhân quyền thì suy cho cùng nó cũng chỉ là thứ hão huyển mà thôi. không có quyền tự quyết dân tộc thì không khác gì thuộc địa, không khác gì nô lê như thời kì pháp thuộc. như vậy dân chủ nhân quyền thì có ý nghĩa gì

    Trả lờiXóa
  4. những nhà dân chủ hiện nay tuy nói rằng vì bảo vệ đất nước, vì muốn tốt cho nhân dân nhưng trên thực tế chủ yếu lại vì cá nhân mình. một số ít còn lại không vì cá nhân lại vì ảo tưởng sức mạnh rằng mình đang thực thi chân lý. cho dù vô tình hay cố ý thì họ đều trở thành con cờ để ngoại bang thao túng để đánh lại dân tộc

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Tui thấy các nhà dân chủ cũng hay lắm chứ. Chúng có ít xịu mà tự hào vỗ ngực la to bảo vệ tổ quốc khỏi bị ngoại xâm. Cái này họ làm tốt nên mình phải làm tốt hơn họ chứ. Đám dân chủ nhỏ xíu, ít người mà dám vỗ ngực la to bảo vệ tổ quốc thì không nhẽ đảng viên ta nhiều như cá dưới sông mà không dám vỗ ngực la to là bảo vệ tổ quốc khỏi ngoại xâm à? Đảng ta mà im ỉm trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thì chúng bảo Đảng ta là hèn đấy!

      Xóa
  5. chúng ta trải qua 2 cuộc chiến tranh khốc liệt với hai cường quốc trên thế giới và chúng ta hiểu được sự đau thương khi chiến tranh xảy ra và vì thế chúng ta không muốn chiến tranh nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chúng ta sợ chiến tranh mà ngược lại khi nào tổ quốc cần chúng ta sẵn sàng đứng lên theo tiếng gọi của quê hương

    Trả lờiXóa
  6. Không sai, độc lập chủ quyền là thứ thiêng liêng cao cả, là mục tiêu bảo vệ hàng đầu của toàn đảng, toàn quân và toàn dân. Mối đại đoàn kết dân tộc, tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn là động lực giúp chúng ta giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc, đánh tan kẻ thù xâm lăng. Ngày nay, tinh thần ấy càng phải được giữ vững. Cả nước trên dưới một lòng thì không ngại gì kẻ thù dù là thâm hiểm đến đâu chăng nữa.

    Trả lờiXóa
  7. Bài viết hào hùng và chính xác với lịch sử Việt Nam. Những kẻ bại hoại đạo đức đang hăm he gây hấn (Campuchia phía Tây-Nam, Trung Quốc Phía Bắc và Đông) hãy coi chừng. Đừng tưởng Việt Nam ta cô thế, yếu thế mà lấn tới. Đụng trận thì biết tay. Chúng đúng là đồ ngu. Chả có học lịch sử gì cả. Kẻ thù xưa không đội trời chung như Pháp, Nhật, Mỹ còn bắt tay làm hoà và trở thành bạn bè Việt Nam. Trung Quốc và Campuchia đừng tưởng đã giúp ta, bạn với ta một thời mà lấn át nhá. Làm quá khó coi Đừng để bạn tốt trở thành kẻ thù không đội trời chung. Cà chớn coi chừng ta vã cho rụng hết răng ăn trầu.

    Trả lờiXóa
  8. ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN QUỐC GIA LÀ MỤC TIÊU CAO NHẤT ĐỂ BẢO VỆ NHÂN QUYỀN
    Mọi người Việt Nam trong ngoài, trên dưới một lòng, đời cha nối đời con, sẵn sàng hi sinh xương máu, đánh cho giặc ngoại xâm phải lui, giành lấy tự do, độc lập, giữ vững độc lập chủ quyền cho non sông, đất nước.

    Trả lờiXóa
  9. Đất nước chưa độc lập, chủ quyền chưa đòi được thì mong gì tới nhân quyền cho nhân dân. Chỉ có những ngu như rận mới tin để những kẻ bên ngoài rắp tâm xâm lược vì cái lý do nhân quyền

    Trả lờiXóa
  10. trung quốc có nhiều hoạt động bành trướng gây sức ép như thế đối với Việt Nam như thế mà vẫn có những kẻ phát ngôn rằng Việt Nam luôn nghe theo Trung Quốc rồi dâng hiến đất đai cho TQ là thế nào nhỉ, nếu bây giờ tôi được người khác cho thì việc gì tôi phải dọa nó để chiếm lấy, đây là logic quá dễ hiểu rồi, thế mà vẫn có những kẻ cố tình bóp méo sự thật lợi dụng đất nước khó khăn mà tác quái quả là đáng hận

    Trả lờiXóa
  11. đứng giữa hai cái thế lực đầu sỏ nhất thế giới bây giờ là Mỹ và Trung Quốc như hai thái cực đối chọi nhau thì quá đau đầu cho nhà nước luôn, nếu mà không có ý chí kiên định và được thừa hưởng từ sự bất khuất trong lịch sử của đất nước, vượt khó quá nhiều tưởng chừng như không thể mà vẫn làm được thì có lẽ khó mà vượt qua được những giai đoạn khó khăn như thế này, chúng ta phải có lòng tự hào mà cha ông để lại mới được

    Trả lờiXóa
  12. đứng giữa hai cái thế lực đầu sỏ nhất thế giới bây giờ là Mỹ và Trung Quốc như hai thái cực đối chọi nhau thì quá đau đầu cho nhà nước luôn, nếu mà không có ý chí kiên định và được thừa hưởng từ sự bất khuất trong lịch sử của đất nước, vượt khó quá nhiều tưởng chừng như không thể mà vẫn làm được thì có lẽ khó mà vượt qua được những giai đoạn khó khăn như thế này, chúng ta phải có lòng tự hào mà cha ông để lại mới được

    Trả lờiXóa