Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

VIỆT NAM VÀ BA ÔNG LỚN Ở BIỂN ĐÔNG

Việt Nam nói riêng và Biển Đông nói chung có vị thế địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế, nói tóm lại là địa - chiến lược như thế nào mà từ nửa cuối thế kỷ XVII, xuyên qua các thế kỷ XVIII, XIX, XX và cho đến tận bây giờ, luôn là mục tiêu nhòm ngó của các thế lực cường quốc trên thế giới? Ở vị thế ấy, Việt Nam phải làm gì để vừa giữ vững chủ quyền, vừa khai thác lợi thế và hạn chế những bất lợi?


Nếu ví Biển Đông như một con phố rộng rãi, tấp nập của tuyến đường hàng hải quan trọng vào bậc nhất hành tinh này thì Việt Nam chính là ngôi nhà siêu mỏng có mặt tiền rộng rãi nhất trên con phố đó. So sánh với các nước Đông Nam Á, chỉ có vị trí địa lý của Singapore mới có thể đọ được với Việt Nam do nó nằm trấn giữ đầu ngõ ra vào con phố đó từ phía tiếp giáp với Ấn Độ Dương.

Vào thế kỷ XIII, nhà thám hiểm và là nhà hàng hải Italia đã nhìn thấy lợi ích địa chiến lược của Biển Đông. Từ thế kỷ thứ XVII, những tàu buôn của các nước phương Tây bắt đầu tìm đến một xứ sở trù phú mà theo họ có thể mang lại sự giao thương buôn bán với nhiều lợi nhuận lớn. Tàu buôn của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan đã cập các thương cảng do người Việt Nam lập ra ở Phố Hiến (Hưng Yên). Những tàu nhỏ hơn có thể vào đến Thăng Long. Đến thế kỷ XVIII, người Nhật cũng lập các thương điếm của họ ở Hội An. Từ thế kỷ thứ XVI, các chúa Nguyễn đã lập ra Hải đội Hoàng Sa, kiêm quản Bắc Hải, bắt đầu khai thác sản vật ở Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa. Đặt dấu mốc chủ quyền lên hai quần đảo này.

Đầu thế kỷ XIX, các đế quốc phương Tây dần chuyển sang chủ nghĩa thực dân, thi hành chính sách xâm lược. Việt Nam và nhiều nước Châu Á rở thành nạn nhân của những cuộc xâm lăng ấy. Trong liên minh đế quốc phương Tây đầu tiên xâm lược Việt Nam có cả Pháp, Anh và Tây Ban Nha. Sau khi chiếm trọn Việt Nam và cả xứ Đông Dương, thực dân Pháp tiếp quản quyền cai trị hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, do hải quân Pháp yếu nên nó không thể khống chế được con đường hàng hải đi qua Biển Đông.

Biển Đông cũng là mục tiêu khống chế hàng đầu của đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Là một nước có lực lượng hải quân mạnh nhất Châu Á khi đó, Đế quốc Nhật Bản kiểm soát hoàn toàn Biển Đông cho đến khi đầu hàng quân đồng minh. Pháp quay lại Đông Dương nhưng hải quân Pháp vẫn như cũ, không kiểm soát được toàn bộ Biển Đông. Đây là thời điểm hải quân Mỹ ồ ạt nhảy vào Biển Đông.

Sau Chiến thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Việt Nam bị chia cắt. Vĩ tuyến 17 kéo dài ra biển đặt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới quyền cai trị của chính quyền ngụy Sài Gòn. Hạm đội 7 của Mỹ thống trị Biển Đông, kiểm soát tuyến hàng hải huyết mạch này. Hải quân ngụy Sài Gòn vẫn chỉ là một hạm đội ven bờ, chủ yếu làm nhiệm vụ tuần duyên. 

Hiệp định Paris năm 1973 buộc Mỹ phải nhả con mồi Việt Nam, trong đó có Biển Đông. Hải quân Mỹ rút khỏi Cam Ranh và Subich. Không quân Mỹ rút khỏi Clack. Năm 1974, Mỹ thỏa thuận với Trung Quốc để Trung Quốc chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội ngụy Sài Gòn. Trung Quốc khi đó thấy rằng về lâu dài, Biển Đông có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với mưu đồ bành trướng của họ. Cũng từ lúc này, Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu chiến lược biển, trong đó, Biển Đông là trọng tâm.

Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam làm cho Trung Quốc lo ngại về một Việt Nam đã mạnh lên cả vè uy tín và thực lực ngay ở biên giới phía Nam của họ. Từ đây, Trung Quốc bắt đầu chuỗi chính sách kiềm chế Việt Nam, bắt tay với Mỹ cấm vận Việt Nam, làm cho Việt Nam suy yếu. Chính từ thời điểm này, với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác tay đôi với Việt Nam, Liên Xô thay thế Mỹ kiểm soát Biển Đông. Lo ngại sự có mặt của hải quân Liên Xô ở Biển Đông và Hải quân Mỹ ở Đài Loan, Nhật bản, Hàn Quốc; Trung Quốc buộc phải tham gia UNCLOS 1982, mong dùng pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp với các đối thủ mạnh hơn.

Sự suy yếu rồi sụp đổ của Liên Xô năm 1991 đã cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng để tiến ra Biển Đông trong khi Mỹ còn đang bận bịu vào việc “dân chủ hóa” các nước Đông Âu và đối phó với sự trỗi dậy của Hồi giáo ở Trung Đông. Cuộc xâm lấn biển Đông bằng chiêu bài “tằm ăn lá dâu” bắt đầu được Trung Quốc thực hiện bằng việc tàn sát các chiến sĩ hải quân Việt Nam, chiếm bãi đã Gạc Ma của Việt Nam ngày 14-3-1988. Chiêu bài đó vẫn được các đời lãnh đạo Trung Quốc thực hiện cho đến đầu thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI.

Như vậy, cả ba “ông lớn” của thế giới đã từng có mặt ở Biển Đông bằng nhiều cách khác nhau giờ đã hiện diện trở lại. Cùng với họ là hai “ông nhỡ” khác không chịu kém miếng là Nhật Bản, vừa được cởi bỏ cái vòng kim cô phòng vệ và Ấn Độ, quốc gia đang lên ở Nam Á cũng khá mạnh về hải quân.

Đối với Việt Nam, chủ của “căn nhà siêu mỏng” nhưng lại có “mặt tiền” rộng rãi, thoáng đãng bên đại lộ Biển Đông thì khỏi phải nói Biển Đông có giá trị như thế nào. Nhưng đối với ba “ông lớn” và hai “ông nhỡ” kia, Biển Đông có ý nghĩa ra sao?

Mỹ

Trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, Biển Đông, ngoài ý nghĩa là con đường hàng hải khuyết mạch cần không chế, còn là một trong các trọng điểm của vành đai kiềm chế Trung Quốc. Trong Lịch sử, Mỹ đã lập hai vành đai để kiềm chế Trung Quốc trên hướng biển. Vành đai trong là các vùng có chế độ thân Mỹ ở Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, ngụy Sài Gòn, Indonesia (dưới thời Suharto) và Philippines; ở Đông Á như Đài Loan, Nhật Bản, ở Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản. Vành đai thứ hai là chuỗi đảo thuộc các quần đảo Marshan, Mariana, Palau, Papua New Guinea và các căn cứ quân sự ở Bắc Úc.

Trong số các đồng minh của Mỹ ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á, Biển đông có ảnh hưởng trực tiếp và toàn diện về mọi mặt đối với Philippines, nước mà Mỹ có hiệp ước an ninh chung từ năm 1951. Biển Đông cũng có ảnh hưởng trực tiếp về kinh tế và giao thương đối với các đồng minh khác của Mỹ là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như vùng lãnh thổ Đài Loan. Sự hiện diện và khống chế Biển Đông của hải quân Mỹ không chỉ có mục tiêu kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc mà còn đồng nghĩa với việc Mỹ đứng ra bảo vệ an toàn các tuyến hàng hải, hàng không đến các nước đồng minh này.

Những lực lượng Hải quân Mỹ có thể cơ động nhanh đến Biển Đông cũng rất lớn. Không kể các phân hạm đội đang trú đóng ở Philippines dưới danh nghĩa tập trận, chủ lực hạm đội 7 có căn cứ chính ở Okinawa (Nhật Bản) chỉ mất từ 3 đến 4 ngày để có mặt ở Biển Đông. Các máy bay chiến đấu hạng nặng mang tên lửa hành trình đối hạm của Mĩ từ Guam và Tinian thì chỉ mất vài giờ để đến Biển Đông. Hạm đội 3 vốn bảo vệ vùng biển phía Đông Thái Bình Dương đã đưa một phần lực lượng đến đóng tại Palau và Guam cũng có thể kéo đến Biển Đông chỉ trong vài ba ngày. Hạm đội 5 đang hoạt động ở vùng Vịnh cũng có thể cơ động đến Biển Đông trong vòng 1 tuần. Mỹ có lợi thế lớn không chỉ ở các hạm đội hải quân đại dương rất mạnh mà còn về pháp lý. Mỹ không tham gia UNCLOS 1982 nên nó có thể phớt lờ các quy tắc của Công ước này.

Sự hiện diện ngày càng tăng của Mỹ ở Biển Đông đã tạo nên ảo tưởng của một bộ phận dân cư Việt Nam rằng Mỹ có thể bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Đó là một suy nghĩ hết sức sai lầm có thể dẫn đến thảm họa. Sự có mặt của Mỹ ở Biển Đông nhằm một mục đích cao hơn là kiềm chế Trung Quốc, thấp hơn một chút là bảo vệ an toàn cho các đồng minh. Về chiến thuật, Mỹ luôn tự đặt mình vào thế răn đe là chủ yếu. Mỹ không dám và không thể khiêu chiến bởi Mỹ coi Trung Quốc vừa là đối thủ vừa là đối tác. Coi Trung Quốc là đối tác vì hiện tại, có rất nhiều doanh nghiệp của Mỹ đang liên kết làm ăn với Trung Quốc. Động đến quan hệ chiến lược này cũng là động đến lợi ích kinh tế của Mỹ. Do đó, Mỹ không thể không thận trọng. Trung Quốc là nước có tiềm lực kinh tế mạnh thứ hai toàn cầu (chỉ sau Mỹ), có lực lượng quân sự hùng hậu mạnh thứ ba thế giới (xét về cả số lượng và chất lượng con người cũng như vũ khí trang bị), là nước thứ ba trên thế giới có công nghệ phóng tàu vũ trụ có người điều khiển, là nước đông dân nhất thế giới… Đó là những lý do khiến Mỹ không thể ứng xử trong vấn đề Biển Đông như đã làm tại vùng Vịnh. Nếu nổ ra xung đột quân sự trên Biển Đông, bất kể do nguyên nhân nào thì những đồng minh của Mỹ là Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ trở thành những nạn nhân đầu tiên.

Nga

Nga vốn có ảnh hưởng rất lớn tại Biển Đông từ thời Liên Xô (cũ) giúp đỡ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, Liên Xô trở thành đồng minh chiến lược của Việt Nam với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện được hai nước ký kết vào năm 1978. Trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam ở biên giới phía Bắc vào năm 1979, Liên Xô đã cử một phân hạm đội thuộc Hạm đội Thái Bình Dương giúp Việt Nam phòng thủ từ phía Biển Đông.

Ngày 2 tháng 5 năm 1979, Chính phủ LB CHXHCN Xô Viết và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ký hiệp định về việc sử dụng Cam Ranh làm Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho Hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Liên Xô trong thời hạn 25 năm và có thể được gia hạn. Kể từ khi đóng căn cứ quân sự tại Cam Ranh, hải quân Liên Xô có được một sự kiểm soát đáng kể đối với Biển Đông và bảo vệ các công trình kinh tế biển đang liên doanh với Việt Nam cùng khai thác.

Theo quy định trong Hiệp định, tại quân cảng Cam Ranh cùng lúc có thể tập trung từ 8 đến 10 tàu chiến Liên Xô, 4 đến 8 tàu ngầm có khu neo nổi và tối đa 6 tàu hộ tống. Tại sân bay cùng lúc có thể tiếp nhận từ 14 đến 16 máy bay mang tên lửa hành trình, 6 đến 9 máy bay trinh sát do thám và 2 đến 3 máy bay vận tải. Tùy theo tình hình chiến sự cụ thể, số lượng máy bay và tàu chiến có thể tăng lên theo thỏa thuận giữa hai Bộ Quốc phòng Liên Xô và Việt Nam. Từ đó, Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga 2.500 hải lý.

Về kinh tế, ngay sau khi Việt Nam thống nhất, Chính phủ CHXNCN Việt Nam đã hợp tác với Liên Xô mở liên doanh dầu khí Việt – Xô Petro, đứa con đầu lòng của ngành dầu khí Việt Nam. Liên Xô đã giúp Việt Nam khoan thăm dò và cùng liên doanh khai thác tại các mỏ Đại Hùng, Bạch Hổ… nằm ngoài khơi Vũng Tàu. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ, nước Nga kế thừa tất cả mọi trách nhiệm và quyền lợi của Liên Xô theo các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận mà Việt Nam và Liên Xô đã ký kết. Liên doanh dầu khí Việt-Xô Petro vẫn giữ nguyên tên cũ và tiếp tục hoạt động.

Trong 10 năm sau đó, do các nguồn lực bị suy giảm, Nga phải buộc phải cắt giảm chi phí quốc phòng. Căn cứ quân sự Cam Ranh cũng thu hẹp quy mô hoạt động. Năm 2004, Nga chính thức rút khỏi căn cứ Cam Ranh, trao trả lại cho Việt Nam. Từ đó đến nay, sự hiện diện quân sự của Nga ở Biển Đông không còn nữa. Đây là cơ hội để Trung Quốc, trong chiến lược trỗi dậy của mình, bắt đầu leo thang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Một thời gian dài sau thời kỳ Chiến tranh lạnh, Biển Đông không phải là chiến lược được ưu tiên của Nga, nhưng với nhiều thay đổi trong khu vực, Nga đã đánh dấu sự trở lại Châu Á - TBD của mình bằng việc thành lập Bộ Phát triển Viễn Đông. Tuy nhiên theo đánh giá của người Trung Quốc, sự trở lại của Moskva tại Biển Đông không thật sự rõ ràng.

Từ năm 2010, khi đã ổn định được tình hình trong nước, nền kinh tế Nga hồi sinh, nền quốc phòng cũng vững chắc và phát triển hơn, Nga có ý định gây dựng lại ảnh hưởng của mình ở Biển Đông, một trong các tuyến vận tải chiến lược đối với vùng Viễn Đông của Nga. Một loạt các động thái và hợp đồng vũ khí trong thời gian qua giữa Nga và một số nước đang có tranh chấp trên biển Đông với Trung Quốc như bán máy bay chiến đấu Su-30 cho Indonesia và Việt Nam, bán tàu ngầm Kilo và tàu hộ tống hạng năng Geapad 3.9 cho Việt Nam đã giúp Nga khởi động hành trình “tiến xuống phương Nam” của mình. Còn đối với cục diện tranh chấp trên biển Đông, Nga chưa có động thái nào khiến Trung Quốc phải đặc biệt quan tâm. Ảnh hưởng ngày càng tăng của Nga hiện hữu trong bối cảnh các nước Đông Nam Á có nguyện vọng kiềm chế sự bành trướng của một Trung Quốc lớn mạnh nhanh chóng. Nga cho rằng khuôn khổ của quan hệ đối tác song phương Nga-Trung sẽ không thể kìm hãm những sáng kiến của Moskva về mở rộng vai trò của Liên bang Nga trong khu vực, đặc biệt là với các lĩnh vực năng lượng và an ninh. Quan hệ đó cũng không được kiềm chế xu thế đa dạng hóa các liên hệ song phương mà Nga vốn xây đắp thành công với người bạn cũ là Việt Nam, cũng như phát triển các hình thức hợp tác song phương mới mẻ với những thành viên khác của ASEAN.

Các quan hệ này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quan hệ Nga-Trung. Mặc dù về nguyên tắc không phản đối sự phát triển các quan hệ song phương và đa phương của Nga với các nước trong khu vực nhưng Bắc Kinh vẫn tỏ thái độ tiêu cực trước thực tế Nga tăng cường hợp tác năng lượng với Việt Nam và những quốc gia khác mà Trung Quốc đang có “tranh chấp biển đảo”, kể cả tranh chấp về thềm lục địa chứa hydrocarbon. Những quan hệ mới đó không thể phá vỡ hình thức đối tác Nga-Trung đã được thiết lập. Nhưng, hiển nhiên, đối tác Nga-Trung sẽ cần đến những điều chỉnh từ cả hai phía. Cụ thể, về mức độ và điều kiện của khả năng “quốc tế hóa” tuyến đường biển phương Bắc, triển khai rộng hoạt động dầu khí của Nga trong vùng biển phần phía nam Đông Nam Á, mở rộng phạm vi hợp tác song phương Nga-Việt Nam, Nga-Philippine và vai trò của Nga trong nền an ninh khu vực nói chung.

Tuy không thể trở lại Cam Ranh với tư cách đồng minh chiến lược của Việt Nam như trước năm 1991, Nga vẫn có những biện pháp để chứng tỏ sự hiện diện quân sự của mình ở Biển Đông bằng con đường dân sự. Tháng 11 năm 2010, Việt Nam và Nga đã đạt được thỏa thuận hai bên cùng xây dựng cơ sở liên doanh sửa chữa tàu biển ở Cam Ranh. Theo thông tin của chính phủ Việt Nam, nhiệm vụ chính của liên doanh này là sửa chữa và bảo dưỡng kỹ thuật cho tàu chiến và tàu thương mại. Cơ sở sẽ bảo đảm bảo dưỡng tàu hải quân của Việt nam, cũng như của hải quân nước ngoài. Công ty Nga đứng ra hợp tác xây dựng liên doanh này là Công ty Zvezdochka. Đây là công ty chuyên về đóng mới và sửa chữa tàu biển có trụ sở tại vùng Arkhangelsk, Liên bang Nga. Trong lịch sử, công ty này cũng tham gia cả vào các chương trình sửa chữa, nâng cấp tàu ngầm nguyên tử của Liên bang Xô Viết cũng như Liên bang Nga sau này. Tổng giám đốc Zvezdochka Vladimir Nikitin và phía Việt Nam đã ký kết bản dự thảo về việc chuyển giao các loại phụ tùng thay thế cho tàu chiến của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Trong thời gian trước mắt có thể nhìn thấy được, Nga sẽ còn tiếp tục hợp tác với Việt Nam trên lĩnh vực điện hạt nhân, tiếp tục hợp tác về khai thác dầu khí và không loại trừ khả năng thăm dò và khai thác băng cháy ở Biển Đông.

Đối với các nước khác tiếp giáp Biển Đông, Nga là nhà buôn vũ khí lớn. Các nước Indonesia, Malaysia đều mua sắm các máy bay chiến đấu các dòng MiG, Su và các loại máy bay huấn luyện của Nga. Nga cũng hợp tác với các nước này về nhiều vấn đề kinh tế như hàng không, khai thác biển, dầu khí…

Ngày 18-10-2013, tại Moskva, Liên bang Nga, Viện Đông Phương học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ nhất về an ninh và hợp tác tại Biển Đông. Để cuộc hội thảo khoa học không biến thành một cuộc tranh cãi về chủ quyền biển đảo, Nga đã không mời các nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông dự hội thảo này. Tại hội thảo này, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch đối ngoại Bộ Ngoại giao Nga Aleksandr Tokovinin cho biết Nga ủng hộ tìm kiếm các giải pháp cùng chấp nhận được để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông; kêu gọi các bên tranh chấp kiềm chế, không sử dụng vũ lực và giải quyết vấn đề bằng biện pháp chính trị-ngoại giao, dựa trên luật pháp quốc tế và Công ước về Luật Biển năm 1982.

Động thái mới nhất của Nga gần đây là họ bất ngờ tuyên bố sẽ có cuộc tập trận chung vởi hải quân Brunei ở Biển Đông. Động thái này đã gây ra sự chú ý của dư luận và khiến Trung Quốc phải quan tâm. Người ta bất giác đặt câu hỏi: Liệu Nga thực sự có ý đồ hiện diện trở lại ở Biển Đông không?

Trung Quốc

Sau hàng thế kỷ bị các nước phương Tây chèn ép, Trung Quốc cho rằng thời kỳ tiến ra đại dương của mình đã đến. Là một quốc gia có diện tích rộng thứ ba thế giới (sau Nga và Canada), Trung Quốc có đường biên giới trên bộ dài 22.143,34 km, tiếp giáp trên đất liền với 14 quốc gia Châu Á nhưng lại chỉ có 14.500 km bờ biển (tính cả đường bờ biển của các đảo). Người Trung Quốc có truyền thống đi biển giỏi nhưng cho đến cuối thế kỷ XX, họ vẫn chỉ là một quốc gia lục địa.

Trong thời hiện đại, Trung Quốc hầu như bị bịt kín các con đường ra đại dương. Phía Đông Bắc có Hàn Quốc và Nhật Bản là những đồng minh của Mỹ án ngữ. Phía Đông có chuỗi đảo phía Nam Nhật Bản và Đài Loan án ngữ. Phía Nam, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đế quốc Mỹ đã thiết lập một vành đai án ngữ với đồng minh là các đảo quốc như Philippines, Indonesia, Malaysia và Singapor án ngữ các lối ra vào Biển Đông.

Trên đất liền, phía Bắc và phía Tây Trung Quốc “vướng” Liên Bang Nga, một thời là Liên Bang Xô Viết và cũng từng bị Trung Quốc gán cho danh hiệu “Đế quốc bá quyền xã hội chủ nghĩa”. Phía Tây Nam “vướng” Ấn Độ và bị dãy Himalaya án ngữ. Phía Nam Trung Quốc giáp các nước trên bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam.

Với lịch sử là một đất nước có “truyền thống” bá quyền khu vực và luôn “lấn rào” để mở rộng lãnh thổ cho dân số ngày càng đông đúc, tài nguyên ngày càng cạn kiệt, nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc, kể cả lãnh đạo Trung Quốc thời kì “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” đều cảm thấy đất nước mình bị bao vây. Và tất cả họ đều nhận thấy con đường “Nam Tiến” xuống Biển Đông để phá thế bao vây có phần dễ dàng hơn các hướng còn lại.

Sau những vụ cưỡng chiếm bằng quân sự đối với quân đảo Hoàng Sa của Việt Nam và 7 bái đá ở quân đảo Trường Sa, các chính khách Trung Quốc chuyển hướng sang chính sách “trỗi dậy hòa bình”, sử dụng các biện pháp ngoại giao, kinh tế, chính trị để gây ảnh hưởng trong khu vực. Đối với Biển Đông, Trung Quốc đưa ra chủ thuyết “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác” (phát biểu của Đặng Tiểu Bình).

Mặc dù đưa ra những lời tuyên bố mềm mỏng như vậy nhưng những hành động của phía Trung Quốc trên Biển Đông thường đi ngược lại với các tuyên bố của họ. Từ giữa những năm 2000, Trung Quóc đã dần dần từ bỏ chính sách “trỗi dậy trong hòa bình” và và bắt đầu thực thi một chính sách mới cứng rắn hơn trong vấn đề Biển Đông. Thời gian qua, thế giới đã ghi nhận sự leo thang của Trung Quốc ở Biển Đông. Những bước đi đầy toan tính của Trung Quốc không những làm nổi sóng Biển Đông, gây phương hại đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia có quyền lợi trực tiếp tại Biển Đông, mà còn khiến vùng biển này thực sự trở thành điểm nóng về chính trị - quân sự của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới.

Chỉ tính riêng từ năm 2007 đến nay, Trung Quốc đã có nhiều động thái gây hấn theo kiểu leo thang về mức độ nghiêm trọng, xâm phạm đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam và một số nước khác trên Biển Đông, trong đó, chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông là đối tượng bị xâm hại nặng nề nhất. Những động thái lấp biển bồi đảo gần đây càng cho thấy Trung Quốc đang từng bước thực hiện âm mưu gặm dần Biển Đông. Biến những vùng không có tranh chấp thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, tiến tới độc chiếm biển Đông.

Hải Trang
Comments
9 Comments
Facebook Comments by Blogger Widgets

9 nhận xét:

  1. Ước Lượng Rủi Ro Ngoài Đông Hải

    Những biến cố dồn dập từ nhiều tháng qua trên vùng Thái Bình Dương đã khiến dư luận thế giới e ngại rủi ro đụng độ hoặc thậm chí xung đột trong khu vực. Nhìn từ giác độ kinh tế thì rủi ro ấy là những gì? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về vấn đề này qua phần trao đổi sau đây của Nguyên Lam.

    Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, tình trạng căng thẳng tại khu vực Đông Hải của Việt Nam đã gây quan tâm cho nhiều quốc gia vì nơi đây là tuyến hải lưu cho phân nửa lượng hàng hóa giao dịch trên toàn cầu. Khi Trung Quốc ráo riết cải tạo các cụm đá ngầm thành đảo với trang bị quân sự và tuần qua công bố Sách Trắng về Quốc Phòng, nhiều người lo rằng xứ này đang bành trướng ảnh hưởng từ vùng biển cận duyên ra tới các đại dương, đã đe dọa chủ quyền trên lãnh thổ và lãnh hải của các lân bang và có thể cản trở quyền tự do lưu thông của các nước. Nhìn từ giác độ kinh tế, ông đánh giá thế nào về các rủi ro đó trong khu vực?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đề nghị là ta nên lùi lại mà nhìn vấn đề trên toàn cảnh và trong viễn ảnh nhiều năm, may ra thì thấy được những rủi ro cho các nước, và trước nhất là rủi ro cho nước tác quái là Trung Quốc.

    - Việc Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng qua nhiều hành động cụ thể mà bất chấp dư luận quốc tế không chỉ xảy ra từ 18 tháng nay, khi họ đòi kiểm soát một khu vực còn rộng lớn hơn biển Địa Trung Hải và trùm lên lãnh hải của nhiều lân bang. Việc họ xác nhận tư thế đại cường hải dương qua tài liệu quốc phòng vừa công bố cũng không có gì là ngạc nhiên. Bắc Kinh chuẩn bị điều ấy từ lâu và nay mới công khai hóa. Nhưng cũng vì vậy mà họ lấy nhiều rủi ro chúng ta cần thấy.

    Nguyên Lam: Thưa ông, vì sao ông lại khởi sự với rủi ro của Trung Quốc do động thái vừa qua?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì nếu Trung Quốc tính ra rủi ro cho mình thì họ sẽ thận trọng hơn và bớt gây rủi ro cho các các khác.

    - Nói chung, lịch sử nhân loại cho thấy rằng khi một cường quốc bành trướng ảnh hưởng và trở thành một đế quốc thì họ cũng mất một thời gian dài. Trung Quốc thật ra mới chỉ là một đại cường cấp vùng đang ngoi lên trình độ ấy và cố vươn từ vị trí cường quốc lục địa ngày xưa lên vị trí cường quốc hải dương sau này. Lý do bành trướng là chưa khi nào kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào thế giới như vậy và ngày nay họ muốn dùng sức mạnh bảo vệ quyền lợi mà họ mơ ước sẽ là toàn cầu

    - Vì vậy, rủi ro đầu tiên là phải can thiệp vào thiên hạ sự chứ không thể duy trì chính sách “không xen lấn vào nội tình của xứ khác” như trước. Khi can thiệp như vậy thì Bắc Kinh phải chọn bạn mà cũng vì thế lại dễ gây thù, chứ không thể ung dung mua chuộc mọi xứ bằng tấm chi phiếu. Trung Quốc lấy rủi ro lớn khi xỏ chân vào đôi giày quá rộng của một siêu cường toàn cầu như Hoa Kỳ. Tức là sẽ liên can vào nhiều chuyện bất ngờ không thể tính trước, kể cả nạn kiều dân bị bắt làm con tin hay bị khủng bố chặt đầu như Hoa Kỳ hay Nhật Bản đã từng bị.

    Nguyên Lam: Ông có thể nào nêu thí dụ cụ thể về rủi ro can dự mà Trung Quốc sẽ gặp hay chăng?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta cứ chú ý vào tình hình Đông Hải nên quên là vì dầu khí, Bắc Kinh đã can thiệp vào Nam Sudan tại Châu Phi khi cung cấp võ khí cho chính quyền sở tại chống các nhóm phiến loạn. Hôm 22 vừa qua, họ phải di tản 400 nhân viên tại các giếng dầu của Nam Sudan. Nếu muốn bảo vệ quyền lợi tại đây, Bắc Kinh có thể gặp cảnh “khi vào húng hắng khi ra vội vàng”!

    Một thí dụ khác là tình hình vùng Vịnh Ba Tư với nội chiến tại Yemen, tranh chấp giữa hai nước có dầu là Iran với Á Rập Saudi, hoặc sự tung hoành của lực lượng khủng bố xưng danh Nhà nước Hồi giáo. Ngay hiện tại, Trung Quốc đã bị các tổ chức khủng bố Hồi giáo, từ al-Qaeda tới ISIL, quậy phá đất Tân Cương. Nếu can dự vào Trung Đông để bảo vệ nguồn năng lượng, Trung Quốc càng là đối tượng được các nhóm khủng bố tấn công trong lãnh thổ tại miền Tây và trên Con Đường Tơ Lụa mà họ đang muốn thực hiện. Vài năm nữa thôi, người ta sẽ thấy ra chuyện đó.

    Trả lờiXóa
  2. Nguyên Lam: Quả thật là ông nêu ra vài chuyện bất ngờ, nhưng ngay tại khu vực Thái Bình Dương, Trung Quốc còn gặp rủi ro nào khác chăng?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Mọi cường quốc muốn thành Đế quốc, là giấc mơ ngày nay của lãnh đạo Bắc Kinh, đều gặp bài toán tôi xin gọi tắt là “tiếp liệu” cho đơn giản. Từ Trung Nguyên tại miền Đông, các Hoàng đế Trung Hoa mà muốn kiểm soát Tây Vực và khống chế Trung Á đều căng mỏng phương tiện nên khó tiếp vận, rồi trung ương còn bị nạn cát cứ ở vùng biên trấn. Mà thôn tính được vùng nào thì cũng nuốt vào bụng sự chống đối của các sắc tộc đã bị họ khuất phục. Đó là hiện tượng từng thấy ở nhiều nơi, tại nhiều xứ, kể cả Liên bang Xô viết hay Liên bang Nga.

    - Trở về Thái Bình Dương thi càng vươn ra biển xanh dương, Bắc Kinh càng kéo dài đường tiếp vận từ bên trong cho các đơn vị Không quân và Hải quân ở ngoài khơi và sẽ bị tốn kém rất cao. Nếu lại muốn lập ra hệ thống nhận diện phòng không ADIZ trên các vùng họ vừ chiếm đóng thì đụng vào hệ thống phòng không của xứ khác, thí dụ như Nhật Bản. Xứ Nhật có hệ thống nhận diện phòng không rất gần với lãnh thổ và căn cứ Nhật, vả lại dân Nhật không có đất lùi như dân Tầu nên chắc chắn là họ sẽ quyết liệt bảo vệ. Đấy là một rủi ro nữa.

    - Cho nên, chẳng dàn ra thì thôi, nếu dàn trận tuyến mà không có khả năng bảo vệ thì lãnh đạo Bắc Kinh làm chính người dân của họ thất vọng vì dân Tầu cứ được tuyên truyền về sức mạnh của quốc gia. Thật ra, để bù vào khó khăn kinh tế, đảng Cộng sản khích động tinh thần dân tộc cho quần chúng thêm tự hào về chuyện ảo. Quần chúng và quân đội mà thất vọng vì khả năng chống trả có giới hạn thì đảng lâm nguy như nhà Mãn Thanh đã từng bị trước khi sụp đổ. Đây là ta chưa nói đến rủi ro ở nơi xa hơn, như tại Ấn Độ Dương, hay cả rủi ro với Hoa Kỳ.

    Nguyên Lam: Hầu hết dư luận đều chú ý đến kịch bản đụng chạm về quyền lợi hay đụng độ võ trang vì tai nạn bất ngờ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ông nghĩ sao về loại rủi ro đó?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì tưởng Hoa Kỳ đang phân vân do dự giữa hai ngả công thủ sau khi quá mệt mỏi với chiến tranh và bất ổn ở ngoài, lãnh đạo Bắc Kinh mới thừa cơ bành trướng quân sự và cho rằng ít bị rủi ro lâm chiến với Mỹ. Tôi thiển nghĩ là lý luận ấy có vẻ có cơ sở vì vài lý do.

    - Thứ nhất, sau khi Chính quyền Barack Obama nói đến việc chuyển trục về Đông Á từ năm 2011, với tiêu chí là sẽ đưa 60% các chiến hạm của mình qua Thái Bình Dương từ nay đến năm 2020, thì ngay năm sau là 2012, Mỹ phải cắt ngân sách quốc phòng, kể cả số chiến hạm. Ngược lại, trong hai năm qua, Bắc Kinh đã hạ thủy nhiều chiến hạm nhất thế giới, với kết quả là tới năm 2020 Hoa Kỳ sẽ có 64 chiến hạn lẫn tầu ngầm trên biển Thái Bình, đối diện với tổng số của Trung Quốc là 248 đơn vị. Với tương quan lực lượng đó và nếu áp dụng chiến pháp gọi là “bất cân xứng” mà Bắc Kinh chủ trương thì họ nghĩ rằng tình hình không đến nỗi tệ cho mình. Tuy nhiên, chính là vì cân nhắc như vậy, Bắc Kinh càng lấy thêm nhiều rủi ro trong những năm tới.

    - Trong khi đó, thực tế không là hỏa lực, số chiến hạm hay phương tiện võ trang của hai nước. Thực tế là thực lực kinh tế của hai quốc gia, với Hoa Kỳ vẫn giàu mạnh gấp bảy Trung Quốc nếu tính theo lợi tức bình quân một đầu người. Ngoài ra, về trình độ công nghệ và kinh nghiệm chiến trường thì Trung Quốc chẳng thể sánh được. Thứ nữa, thái độ khiêu khích của Bắc Kinh sẽ làm dân Mỹ xoay chuyển và muốn tìm lại vai trò tích cực hơn trong vài năm tới. Khi ấy ta chẳng nên quên rằng Mỹ đã từng tham chiến vì tinh thần chống lại chủ nghĩa thực dân đế quốc, là điều ăn khớp với động thái ngày nay của Trung Quốc. Sau cùng, Hoa Kỳ hiện có nhiều đồng minh hơn Trung Quốc mà Bắc Kinh càng hung hăng thì số đồng minh với Mỹ lại càng tăng. Đấy là một rủi ro có cấp số nhân vì nếu một đồng minh mà bị Tầu tấn công thì nhiều xứ khác sẽ có phản ứng.

    Trả lờiXóa
  3. Nguyên Lam: Thưa ông, nói về các đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực rộng lớn mà Bắc Kinh muốn bung ra thì ta thấy có Nhật với nền kinh tế lớn thứ ba, Ấn Độ với nền kinh tế đứng thứ chín, Úc đứng hạng 12, Nam Hàn hạng thứ 13, tức là một vòng đai các quốc gia bán đảo hay quần đảo thuộc loại khá vững mạnh của địa cầu. Đấy có phải là một rủi ro khác cho Trung Quốc không?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng rủi ro lớn nhất chính là sự phân vân chần chờ ngày nay của Hoa Kỳ khiến Trung Quốc càng dễ phiêu lưu và làm các quốc gia kể trên sớm liên kết với nhau.

    - Họ liên kết với nhau trong tinh thần tương nhượng để chia sẻ gánh nặng kinh tế cho yêu cầu an ninh và sẽ nhìn vào kế hoạch “Con Đường Tơ Lụa” trên đất liền và trên biển của Bắc Kinh với cách lượng giá đầy tính nghi ngờ về an ninh hơn kinh tế. Rồi theo truyền thống cố hữu, Mỹ chần chờ và sẽ lại liên kết với các xứ đó, chưa kể một số nước trong Hiệp hội ASEAN. Sự thật thì chính là các quốc gia nói trên của Á Châu mới bị Trung Quốc hăm dọa nên sẵn sàng hợp tác với Mỹ.

    - Cụ thể thì người ta đã thấy Nhật vừa ký kết hiệp ước phòng thủ mở rộng với Mỹ theo chủ ý tích cực với vai trò quân sự quan trọng hơn của Nhật vì lý do là bênh vực các đồng minh bị tấn công. Mới đây, Thủ tướng Shinzo Abe cũng hứa hẹn gia tăng đầu tư và viện trợ của Nhật cho các nước Đông Nam Á để tìm lại ảnh hưởng kinh tế năm xưa ở trong vùng. Cho nên, vấn đề không thu hẹp vào sự ganh đua hoặc tranh chấp giữa Mỹ và Tầu mà sẽ có sự tham dự của nhiều quốc gia khác. Tôi thiển nghĩ rằng hóa ra chính lãnh đạo Bắc Kinh mới lập ra vòng đai phòng thủ của cả chục quốc gia nằm trên con đường bành trướng của Trung Quốc.

    Nguyên Lam: Tổng kết lại, thưa ông, có phải là Trung Quốc cứ khẳng định quyền bành trướng của họ mà lại gặp nhiều rủi ro chứ không dễ gì tác động như Bắc Kinh đã trù tính ban đầu?

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, Bắc Kinh có quyền lợi và tham vọng cao quá khả năng quân sự. Tại các vùng đất xa xôi mà họ muốn vươn tới cho mục tiêu kinh tế thì bộ máy quân sự chưa theo kịp các dự án kinh tế nên những chọn lựa bạn thù hoặc quyết định can thiệp vào xứ khác vì quyền lợi kinh tế sẽ khiến Trung Quốc dễ bị tấn công hơn xưa, chưa nói đến nạn hải tặc hay khủng bố.

    - Thứ hai, dù có một chủ trương “lý tài” là chỉ giao du vì quyền lợi, Trung Quốc vẫn có thể bị lôi vào những tranh chấp hay chiến tranh của xứ khác, với hậu quả dây chuyền. Và nếu chiến tranh bùng nổ thì trận địa sẽ ở gần lãnh thổ Trung Quốc mà ở xa Hoa Kỳ. Vì kinh tế Tầu bị lệ thuộc bên ngoài hơn là kinh tế Mỹ, tổn thất cho Trung Quốc sẽ rất cao và kết cuộc thì Hoa Kỳ còn mạnh hơn trước, như người ta đã thấy sau hai Thế chiến của thế kỷ 20. Nếu Trung Quốc lượng giá lại như vậy thì may ra họ sẽ bớt hung hăng và thế giới bớt gặp rủi ro. Nếu không, sau chiến tranh bất ngờ, thì khủng hoảng kinh tế và chính trị sẽ đẩy lui Trung Quốc vào sự tàn tạ của thế kỷ 19.

    Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về phần nhận định khá độc đáo này.

    Trả lờiXóa
  4. Thế chân vạc hình thành ở biển ĐÔng boeir ba cường quốc Nga-Mỹ_Trung Quốc. Trung QUốc không chỉ vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn đụng chạm đến lợi ích của nhiều quốc gia khác, điều này đã làm Trung QUốc phải đối mặt với các cường quốc trong cuộc tranh chấp biển Đông

    Trả lờiXóa
  5. Trung QUốc do sự tham lam, dã tâm của mình ở biển Đông mà hiện nay đang phải gánh hậu quả bị các nước trên thế giới để ý, mỗi hành động của TQ trên biển đông đều được theo dõi. Hơn thế nữa, Mỹ đã chính thức ra mặt khi những hành động của TQ trực tiếp làm ảnh hưởng đến lợi ích, mục tiêu của mình tại biển Đông

    Trả lờiXóa
  6. “Từ ngữ của người phát ngôn ‘chủ quyền không tranh cãi của VN’ có nghĩa là Việt Nam không tranh cãi nữa vì VN đã mất những hòn đảo mà Trung Quốc đã chiếm đóng rồi. Nếu là của VN thì Nhà nước hãy chứng minh tại sao đảo của mình mà mình không được sử dụng, biển của mình mà mình không được đánh bắt cá và mỗi lần như vậy đều bị Trung Quốc tấn công, xua đuổi?”

    Trả lờiXóa
  7. với vị trí địa chính trị quan trọng , then chốt như vậy thì Việt Nam ta đã và đang là mục tiêu tấn công của các cường quốc , có thể tấn công xâm phạm chủ quyền , tranh chấp biển đảo như trung quốc đang làm hoặc tăng cường ảnh hưởng , nhằm điều khiển , hướng lái chúng ta theo quĩ đạo của chúng như Mỹ , do vậy , chúng ta cần phải tỉnh táo , có đường lối chính sách độc lập , tự chủ để bảo vệ chủ quyền quốc gia

    Trả lờiXóa
  8. với vị trí địa chính trị quan trọng , then chốt như vậy thì Việt Nam ta đã và đang là mục tiêu tấn công của các cường quốc , có thể tấn công xâm phạm chủ quyền , tranh chấp biển đảo như trung quốc đang làm hoặc tăng cường ảnh hưởng , nhằm điều khiển , hướng lái chúng ta theo quĩ đạo của chúng như Mỹ , do vậy , chúng ta cần phải tỉnh táo , có đường lối chính sách độc lập , tự chủ để bảo vệ chủ quyền quốc gia

    Trả lờiXóa
  9. nước nào cũng muốn tăng cường ảnh hưởng tới nước ta , đều muốn hướng lái chúng ta đi theo quĩ đạo của họ , do vậy việc đảm bảo giữ vững độc lập chủ quyền của đất nước , của dân tộc đang căng thẳng hơn bao giờ hết mà nếu không có sự tỉnh táo , bình tĩnh trước mỗi diễn biến của tình hình biển Đông đang ngày 1 nóng hơn thì chúng ta có thể đối mặt nguy cơ thất bại bất cứ khi nào

    Trả lờiXóa