Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN MANG ĐẾN TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ THỊNH VƯỢNG?

Đã từ lâu chúng ta nghe nói đến sự so sánh giữa CNTB và CNXH. Rất nhiều người cho rằng CNTB là hiện thân của tự do, dân chủ, đặc biệt khi người ta nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tư sản. Đối với hầu hết chúng ta, những người sinh ra và lớn lên sau Thế chiến Thứ II, đặc biệt những người chứng kiến sự sụp đổ của phe XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, các quốc gia TBCN luôn là hiện thân của thịnh vượng và văn minh, đối nghịch với những xã hội nghèo nàn, bất ổn của những nước XHCN cũ. Từ đó, nhiều người tin rằng CNTB là hiện thân của Tự do, Dân chủ và Thịnh vượng, và rằng, Việt Nam nên bỏ CNXH để đi theo CNTB nhằm đem lại sự tăng trưởng về kinh tế, phát triển xã hội, tiến tới một xã hội giàu có, văn minh...



Để trả lời, tôi xin đưa lại cho các bạn các thông tin một cách khái quát nhất về những sự kiện và những gì mà CNTB đã đem lại cho loài người nói chung và xã hội trong nước của quốc gia TBCN hàng đầu thế giới (Pháp và Mỹ, những nước Tư bản hàng đầu đã xâm lược Việt Nam) nói riêng. Từ đó, chúng ta sẽ nhìn nhận lại bối cảnh lịch sử, điều kiện KT-XH của Việt Nam để ngẫm xem chúng ta nên lựa chọn con đường phát triển nào cho Việt Nam.

Xã hội Pháp trước cuộc Cách mạng Tư sản:

Trong khoảng thời gian từ năm 1760 tới năm 1840, vai trò của nước Pháp trên thế giới rất quan trọng. Ảnh hưởng của người Pháp đã tới các xứ Ái Nhĩ Lan, Ba Lan, Hà Lan, Ý và nhiều miền đất khác. Pháp đã là trung tâm của các phong trào trí thức trong thế kỷ 18. Khoa học của nước Pháp đã dẫn đầu thế giới. Phần lớn các tác phẩm văn hóa và chính trị đều được viết bằng tiếng Pháp được các nhà trí thức thuộc nhiều quốc gia tìm đọc và các ý tưởng, sáng kiến, phát minh của người Pháp được các dân tộc khác trên thế giới theo dõi và bắt chước. Tiếng Pháp đã là một ngôn ngữ quốc tế, dùng cho các nhà trí thức và giới quý tộc của nhiều quốc gia tại châu Âu.

Nước Pháp với dân số 24 triệu người vào giữa thế kỷ 18, là một miền đất giàu có nhất và đông dân nhất dưới quyền một chính phủ trung ương trong khi vào thời gian này, nước Đức còn bị chia rẽ, nước Nga chưa ổn định và dân số của cả nước Anh và Tô Cách Lan cộng lại mới được 10 triệu người. Thành phố Paris tuy nhỏ hơn so với thành phố Luân Đôn về diện tích nhưng lại rộng gấp hai lần các thành phố Wien và Amsterdam. Tiền vàng của nước Pháp được lưu hành khắp châu Âu và chiếm một nửa số lượng ngoại tệ giao dịch, và số lượng hàng hóa xuất cảng của nước Pháp qua các nước khác của châu Âu đã lớn hơn số lượng hàng hóa của nước Anh. Nhưng trong hoàn cảnh phát triển với ảnh hưởng rộng lớn như vậy, cuộc Cách Mạng Pháp đã bùng nổ, làm rung động cả châu Âu, đã lật đổ chế độ cũ bằng một thứ "xã hội mới" và là một khuôn mẫu mà các phong trào cách mạng sau này hướng vào, coi cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789 là một cách mạng đi trước thời đại.

Cách mạng Tư sản Pháp làm cho kinh tế phát triển, xã hội tốt đẹp hơn, người dân được hưởng Tự do, dân chủ và thịnh vượng?

Cuộc Cách mạng Pháp diễn ra trong khoảng thời gian từ 1789-1799, được đánh dấu bởi cuộc Đột chiếm Ngục Bastille. Khác với sự tưởng tượng của chúng ta, diễn biến thực sự và kết quả của nó lại tệ hại đến không ngờ: “Ngày 14 tháng 7, 1789, sau bốn giờ xung đột, quân khởi nghĩa chiếm được ngục Bastille. Mặc dù có lệnh ngừng chiến để tránh sự tàn sát lẫn nhau, vị quan giám ngục ở đó là Hầu tước Bernard de Launay và nhiều lính gác vẫn bị giết. Đám đông đem đầu quan giám ngục cắm cọc mang đi diễu hành quanh thành phố. Tuy những người Paris chỉ giải thoát cho bảy tù nhân (bốn kẻ lừa đảo, hai công tử quý tộc bị giam do đạo đức xấu, và một nghi phạm giết người) nhưng Bastille vẫn được coi là một biểu tượng hùng hồn của tất cả những gì bị căm ghét của "chế độ cũ". Quay trở về Tòa thị chính, đám đông buộc tội vị prévôt des marchands (tương đương chức thị trưởng) Jacques de Flesselles là kẻ phản bội; ông bị giết ngay trên đường đến một nơi có vẻ là một tòa án ở Cung điện hoàng gia Palais Royal.”

Tiếp theo, khác với tưởng tượng của nhiều người cho rằng cuộc Cách mạng Pháp được lãnh đạo bởi những nhà cách mạng tài ba với sự ủng hộ của người dân, trong khoảng một chục năm, xã hội Pháp rơi vào cảnh hỗn loạn và chia rẽ sâu sắc, hàng loạt các vụ biểu tình, bạo động, đình công...của các phe phái, lực lượng khác nhau cộng với những cuộc chiến tranh với liên minh ủng hộ Hoàng Gia của Pháp. Thời kỳ này được coi là một trong những cuộc “tắm máu” trong lịch sử nước Pháp, đỉnh điểm là hàng loạt các vụ quân lính được lệnh nã súng vào đoàn biểu tình, trong đó, Napoleon nổi lên trở thành một sỹ quan xuất sắc và được phong tướng nhờ “chiến công” ra lệnh nã đại bác vào đoàn người biểu tình. Nên nhớ, Công xã Paris cũng nổ ra trong khoảng thời gian này thể hiện sự bất mãn của giới thị dân, thợ thủ công và đã bị “dìm trong bể máu”...

Sau khi vua Luis XIV bị đưa lên giá treo cổ, tình hình chính trị - xã hội của Pháp không mấy sáng sủa hơn. Thành tựu của CMTS Pháp chủ yếu là trên giấy bằng việc thông qua Hiến Pháp Tư sản và vài sắc luật. Đúng thời điểm này, nhờ những chiến công trong các chiến dịch chống lại “Liên minh Thứ nhất, Napoleon nhanh chóng được đưa lên đỉnh cao quyền lực trong quân đội Pháp rồi tiến hành đảo chính. Sau vài năm tại vị ở vị trí Tổng Tài thứ nhất và giúp nước Pháp đánh bại hàng loạt các quốc gia châu Âu, vơ vét của cải để nuôi sống quân đội và làm giầu cho giới cầm quyền Pháp, Napoleon đã khôi phục chế độ quân chủ, lên ngôi Hoàng Đế nước Pháp. Trong suốt những năm trị vì, Napoleon đã được người Dân Pháp tôn sùng là vị tướng vĩ đại nhất, vị hoàng đế hùng mạnh nhất trong lịch sử nước Pháp nhưng đổi lại, ông ta lại đưa xã hội Pháp lún sâu vào khủng hoảng về kinh tế và đời sống dân sự do phải gánh chi phí khổng lồ của các cuộc chiến tranh chinh phạt liên miên. Của cải cướp được từ các cuộc chiến tranh chủ yếu được sử dụng để “tái tạo” sức chiến đấu cho quân đội và làm giầu cho một số ít giới cầm quyền, đại đa số dân chúng thì phải chịu cảnh hy sinh xương máu và è lưng trước gánh nặng chiến phí. Không dừng lại ở đó, sau khi Napoleon bị đánh bại và người Anh đem đi lưu đầy, nước Pháp còn phải chịu gánh nặng bồi thường chiến phí.

Sau khi Napoleon bị đánh bại(1815) và đem đi lưu đầy ở đảo Saint Helena trên Đại Tây Dương, cách bờ biển Tây Phi 1 870 km, Chế độ cộng hòa chưa được khôi phục ngay mà phải đợi đến tận 1848 nền đệ nhị cộng hòa mới ra đời và cũng chỉ tồn tại được trong 4 năm (1848-1852) trước khi Napoleon đệ tam được dựng lên, khôi phục chế độ quân chủ do ông nội mình đã lập nên trước đó. Nước Pháp lại một lần nữa dấn thân vào một cuộc chiến tranh và bại trận trước quân Phổ năm 1870 và phải chịu cảnh bị chiếm đóng đến năm 1873 cùng với khoản bồi thường chiến phí phải trả cho bên thắng trận...

Mặc dù ở Châu Âu thời bấy giờ, thành tựu của Cách mạng khoa học công nghệ cũng như các cuộc cách mạng về tư tưởng và văn học, nghệ thuật bùng nổ nhưng người dân được hưởng thụ thành quả của các cuộc cách mạng này rất hạn chế. Giới cần lao ở Pháp có đời sống không hơn gì so với người dân ở những nước thuộc địa. Nước Pháp, nơi khởi nguồn và “đơm hoa kết trái” của những tư tưởng hết sức dân chủ, tiến bộ như “tự do, bình đẳng, bác ái” hay “Chủ quyền thuộc về nhân dân”... lại phản bội lại những tư tưởng đó để đàn áp đẫm máu các cuộc đấu tranh của người dân và liên tiếp tiến hành các cuộc chiến tranh thôn tính, đô hộ các dân tộc khác, cùng với Anh, Pháp là một trong 2 tên đế quốc sừng sỏ nhất thế giới với hệ thống thuộc địa trải dài khắp châu Á, Phi và Mỹ la tinh...

Chính việc làm hình thành nên hệ thống thuộc địa của các nước châu Âu đã làm cho quan hệ giữa các cường quốc trở nên mâu thuẫn sâu sắc. Những nước chậm chân hơn như Đức, Ý, Nhật... thấy rằng họ khó có thể cạnh tranh để phát triển nếu bị bó hẹp ở thị trường trong nước, trong khi đó các nước ở Châu Á, Phi và Mỹ lating hầu hết đã trở thành thuộc địa. Vì vậy, liên tiếp trong gần 3 thập kỷ, bắt đầu từ châu Âu, hai cuộc đại chiến thế giới đã nổ ra gây ra biết bao nhiêu thảm họa cho nhân loại. Không phủ nhận tội ác và nguyên nhân trực tiếp gây ra các cuộc chiến tranh đó là do các nước như Đức, Ý, Nhật, nhưng nếu nhìn vào nguyên nhân sâu xa của các cuộc đại chiến đó thì chính hệ thống thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc của các nước Tư bản hàng đầu thời kỳ đó phải chịu trách nhiệm chính.

Ngay trong những năm tháng cuối cùng của Đại chiến thế giới II, các nước tham gia “đồng minh chống phát xít”, đứng đầu là Mỹ và Liên Xô đã nhận thức rõ hệ thống thuộc địa chính là nguyên nhân cơ bản gây ra hai cuộc đại chiến thế giới. Vì vậy, ngay từ trong quá trình trù bị thành lập, các văn kiện của Liên hợp quốc đã đề cập tới việc trao trả độc lập cho các Dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Chính vì lý do này, Hồ Chủ Tịch đã quyết định để Việt Minh hợp tác tích cực với “đồng minh” để chống phát xít và nhiều lần tìm mọi cách liên hệ với chính phủ Mỹ nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho việc thành lập một nước Việt Nam độc lập, thoát khỏi mọi sự nô dịch và ràng buộc với thực dân Pháp (Tổng thống Mỹ Eisenhower đã từng phát biểu rằng sau khi Đại chiến Thế giới kết thúc sẽ đưa Đông Dương vào chế độ Ủy trị của Liên hợp quốc). Nhưng một lần nữa, các nước tư bản hàng đầu lại phản bội chính những cam kết và tuyên bố của mình. Quân đội Anh đã hậu thuẫn và Chính phủ Mỹ làm ngơ, thâm chí là ủng hộ để Thực dân Pháp đổ bộ vào Miền Nam Việt Nam rồi tiến đánh ra Miền Bắc Việt Nam, xâm lược Việt Nam một lần nữa. Không chỉ ở Việt Nam, hầu hết các thuộc địa ở châu Á, Phi và Mỹ Lating chưa được hưởng độc lập ngay sau khi kết thúc Đại chiến thế giới lần thứ II. Cuộc đấu tranh đòi độc lập của các dân tộc thuộc địa còn kéo dài vài thập kỷ sau nữa, trong đó, chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam được coi là hồi chuông cáo chung của Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ. 

Nhưng cùng trong thời gian này, Đế quốc Mỹ, một nước Tư bản nổi lên là siêu cường số 1 thế giới sau hai cuộc Đại chiến đã lại áp dặt lên các quốc gia khác “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” hay còn gọi là “chủ nghĩa can thiệp”, điển hình là ở Việt Nam, Philippines, Nam Triều Tiên, Chi Lê... Chủ nghĩa can thiệp được Mỹ áp dụng ở Miền Nam Việt Nam từ 1955-1965 đã không đạt được hiệu quả do sức đấu tranh không viết mệt mỏi của nhân dân miền Nam. Đế quốc Mỹ đã dựng lên cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” để trực tiếp đem quân vào xâm lược Việt Nam. Bản chất của chủ nghĩa đế quốc bộc lộ rõ nét nhất, thâm độc và tàn bạo nhất chính ở Việt Nam chúng ta. Hàng loạt các giá trị tư tưởng cao đẹp như “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” bị chà đạp chính tại nơi mà người Mỹ muốn đầu tư cho nền tự do của họ được “xuất khẩu” ra bên ngoài. Trong 9 năm tham chiến ở Việt Nam, quân đội Mỹ và đồng minh đã trút xuống Việt Nam và chiến trường Đông Dương nói chung số bom đạn gấp 3 lần tổng số bom đạn được sử dụng trong Đại chiến thế giới lần thứ II gây ra biết bao tội ác ghê tởm nhất đối với nhân dân Việt Nam...

Người Pháp và người Mỹ, chỉ sau khi thất bại tại Việt Nam mới rút ra những bài học cay đắng, mới thấy rằng sự tàn bạo và sức mạnh quân sự không thể bẻ gẫy được sức mạnh của ý chí, nghị lực của những chiến sỹ đấu tranh cho tự do, dân chủ và độc lập dân tộc ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Họ đã phải từ bỏ những cuộc chiến tranh, sự can thiệp và nô dịch đối với các Dân tộc thuộc địa và các quốc gia non trẻ thoát thân từ phong trào giải phóng dân tộc như Việt Nam ta.

Như vậy, thử hỏi chủ nghĩa tư bản đem lại tự do, dân chủ hay chính họ là những kẻ bóp nghẹt các giá trị của tự do, dân chủ trong các cuộc đấu tranh của nhân dân toàn thế giới trong suốt mấy trăm năm qua. Ai thực sự đấu tranh, hy sinh và đem lại nền Tự do, dân chủ cho Nhân loại? Giới cầm quyền ở các nước Tư bản hàng đầu hay chính những người dân, ở chính các nước tư bản và những người dân thuộc các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc mới là người có công hiện thực hóa quyền tự do, dân chủ trên thế giới như hiện nay? Việt Nam, để phát triển và vươn lên trở thành cường quốc có nên lặp lại con đường mà các cường quốc tư bản hàng đầu đã trải qua hay không?

Câu trả lời, đến đây xin nhường lại quý vị...

Sen Hồng
Comments
12 Comments
Facebook Comments by Blogger Widgets

12 nhận xét:

  1. đúng là chủ nghĩa tư bản mang lại tự do, dân chủ, nhưng mà không phải mang lại cho đại đa số nhân dân mà là cho những kẻ có tiền có quyền trong xã hội. thử nghĩ mà xem, đến việc ngồi tù vì phạm tội cũng có thể thoát bằng việc trả một số tiền tương ứng với số năm tù giam để bảo lãnh thì tự do dân chủ ở đâu ra? thằng lắm tiền lắm quyền có phạm tội thì vẫn có thể nhởn nhơ ở ngoài xã hội, còn những người thấp cổ bé họng nghèo nàn thì cứ gọi là chịu trận. vậy tự do dân chủ ở nơi nào?

    Trả lờiXóa
  2. Tư bản là sự bóc lột. Khi tư bản mới ra đời cho tới ngày nay sự bóc lột của nó không hề thay đổi, chỉ có thay đổi phương thức bóc lột. Tàn bạo và dã man hơn. Đó là điều chính xác mà chúng ta cần công nhận

    Trả lờiXóa
  3. Tôi thấy các nước tư bản thì cũng có nước giàu, nước nghèo, và người dân của họ không phải ai cũng có đầy đủ cơm ăn áo mặc. Hơn hết quyền tự do, dân chủ của nhân dân ở nhiều nước còn không được đảm bảo bằng nước ta khi mà họ luôn phải chịu áp bức bất công gây ra nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn, an ninh không được đảm bảo.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. TUy đất nước Việt nam chưa giàu nhưng ,chúng ta thể hiện sự đoàn kết dân tộc,yêu thương nhau ,chứ không như các nước phương tây đấu đá nhau,tranh giành . Việt nam luôn có sự công bằng ,luôn đảm bảo quyền lợi nhân dân, luôn được Đảng nhà nước quan tâm. Để có thể phát triển cho từng người dân

      Xóa
    2. Nhân dân luôn tin tưởng và hướng đến con đường XhCN mà chúng ta đã chọn .Từ trong lịch thì còn này đã được xác định và đó chính là con đường của đất nước .Biết bao kẻ thù đã xâm lược nhưng đâu có thắng được. giờ đây đất nước cũng đã đi vào phát triển ,quan hệ ngoại giao với rất nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ ,đâu có thua kém gì TB đâu

      Xóa
  4. Tôi thấy các nước tư bản thì cũng có nước giàu, nước nghèo, và người dân của họ không phải ai cũng có đầy đủ cơm ăn áo mặc. Hơn hết quyền tự do, dân chủ của nhân dân ở nhiều nước còn không được đảm bảo bằng nước ta khi mà họ luôn phải chịu áp bức bất công gây ra nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn, an ninh không được đảm bảo.

    Trả lờiXóa
  5. nước Mỹ sau chiến tranh mới giàu lên vì họ bán vũ khí cho các bên tham chiến chán chê rồi đến khi xắt xén bọn phát sít thì họ lại tổ chức với nhiều nước để cắt xén kiếm lời, thành ra Mỹ là một đất nước được hưởng nhiều nhất từ chiến tranh, vậy thì thử hỏi rằng nếu không có chiến tranh thì liệu Mỹ có được như ngày hôm nay, có nhảy được như ngày hôm nay

    Trả lờiXóa
  6. chủ nghĩa tư bản mà chẳng bao giờ là tốt đẹp cả, đơn giản nó lập ra cũng chỉ là bóc lột mà thôi, nhìn hững nước phát triển mả xem nhân dân ở đó cũng chẳng sung sướng gì, con người làm việc không khác gì cỗ máy thì làm sao mà phát triển được, ở VN còn hiền chán, ăn chơi nhảy múa chẳng thiếu cái gì

    Trả lờiXóa
  7. Bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột người lao động, bóc lột các giai tầng dưới trong xã hội. Chủ nghĩa tư bản chỉ bảo vệ thế lực cầm quyền, những kẻ có tiền, có thế lực. Tự do dân chủ của chủ nghĩa tư bản chỉ có với những kẻ có thật nhiều tiền. Xã hội mà phải có tiền, có năng lực về tài chính mới được phép ứng cử trong vai trò người lãnh đạo, trong đội ngũ cầm đầu quốc gia. Vậy tự do, dân chủ ở đây là gì, và ở đâu vậy?

    Trả lờiXóa
  8. Bản chất mãi là bản chất , như các rận chủ đấy thôi, suốt ngày đấu tranh với là quyền này quyền nọ những thật chất thì toàn những hành động gây rối trật tự xã hôi , âm mưu chống phá Đảng và nhà nước , vì cái lợi ích cá nhân cho riêng các rận mà thôi.

    Trả lờiXóa
  9. Theo tôi tì mỗi quốc gia trên thế giới đều có những con đường riêng để xây dựng và phát triển đất nước của họ . TUy vào điều kiên khác nhau mà có những con đường khác nhau, cứ theo họ là sẽ giàu sao .Con đường CNXH mà đất nước việt nam hướng đến là quá tốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng nhau phát triển đất nước

    Trả lờiXóa
  10. tự do dân chủ của tư bản là kiểu thế này: ngồi tù vì phạm tội cũng có thể thoát bằng việc trả một số tiền tương ứng với số năm tù giam để bảo lãnh thì tự do dân chủ ở đâu ra? thằng lắm tiền lắm quyền có phạm tội thì vẫn có thể nhởn nhơ ở ngoài xã hội, còn những người thấp cổ bé họng nghèo nàn thì cứ gọi là chịu trận. vậy tự do dân chủ ở nơi nào?

    Trả lờiXóa